Tổng hợp thông tin thị trường hàng hóa ngày 22/01/2021

22/01/2021

TIN TỨC HÀNG HÓA PHÁI SINH TRÊN THỊ TRƯỜNG

Thị trường tài chính thế giới có nhiêu biến động, nhiều thông tin về nông sản, nguyên liệu công nghiệp, năng lượng, kim loại.

  • Mỹ:
    • Phố Wall đóng cửa trái chiều trong phiên hôm qua. Cụ thể, Dow Jones giảm 0.04%, trong khi đó S&P 500 tăng 0.33% còn Nasdaq tăng 0.55%, vượt định lịch sử thiết lập hôm 20/01.
    • Theo dữ liệu Chính phủ công bố hôm nay, số lượng người xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ trong tuần trước là 900,000. Đây là mức cao hơn rất nhiều so với con số cao nhất ghi nhận trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhấn mạnh sự ảnh hưởng của đại dịch lên thị trường việc làm của Mỹ.
    • Chính phủ cũng báo cáo 423,734 hồ sơ trong chương trình Hỗ Trợ Thất nghiệp Đại dịch cho những người tự kinh doanh vì họ thường không đủ điều kiện nhận trợ cấp. Con số này gần gấp đôi so với tuần trước sau khi chương trình này hết hiệu lực trong một thời gian ngắn.
    • Tính đến ngày 02/01/2021, có khoảng 16 triệu người dân Mỹ nhận được các khoản trợ cấp từ chính phủ và con số này được dự kiến sẽ tiếp tục tăng. Việc sa thải nhân viên đang diễn ra với tốc độ cao, phản ánh tác động của các biện pháp hạn chế di chuyển. Tình trạng này khó có thể được cải thiện cho đến khi tỷ lệ lây nhiễm giảm và nền kinh tế có thể mở cửa trở lại.

Nông sản

  • Việt Nam:
    • Theo Reuters, ngành chăn nuôi của Việt Nam đang chuyển sự chú ý sang việc mua lúa mỳ của Úc, do giá ngô toàn cầu vẫn tăng mạnh, đặc biệt là khi các hiệp định nhập khẩu miễn thuế giữa Việt Nam và Úc khiến cho giá lúa mỳ Úc trở nên hấp dẫn hơn.
    • Giá ngô toàn cầu tăng đã nâng giá ngô APM-13 CIF của Việt Nam lên khoảng 284 – 285 USD/tấn, trong khi giá lúa mỳ hạt trắng ASW ở mức 287 USD/tấn FOB, tương đương 307 USD/tấn CFR. Giá lúa mỳ trong những tuần gần đây cũng tăng, nhưng lại hưởng lợi bởi nhập khẩu từ Úc, Nga, Kazakhstan và Canada đều có các hiệp định thương mại miễn thuế. Trong khi đó, ngô và lúa mỳ nhập khẩu từ Bắc và Nam Mỹ sẽ phải chịu thuế nhập khẩu 5% và khiến cho giá ngô nhập vào Việt Nam được nâng lên ít nhất 299 USD/tấn – thấp hơn 8 USD/tấn so với giá lúa mỳ Úc. Thông thường, do lúa mỳ có hàm lượng protein cao hơn, các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi sẽ điều chỉnh công thức của họ để sử dụng lúa mỳ thay cho ngô khi sự chênh lệch giá vào khoảng 20 USD/tấn.
    • Việt Nam là một trong những nước nhập khẩu ngô lớn nhất thế giới. Trong báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA, nhập khẩu ngô của Việt Nam niên vụ 2020/21 được dự đoán là 12 triệu tấn, tăng 12% so với niên vụ trước. Việt Nam chủ yếu nhập khẩu ngô của Argentina. Ngoài ra, khi kinh tế cho phép, Việt Nam cũng nhập khẩu ngô từ Hoa Kỳ, Nga và Biển Đen; hoặc các nước châu Á như Myanmar và Ấn Độ. Với lúa mỳ, USDA dư kiến Việt Nam sẽ nhập khẩu 3.6 triệu tấn trong niên vụ 2020/21
  • Argentina:
    • Sở giao dịch Buenos Aires Exchange của Argentina (BAGE) cho biết, tiến độ gieo trồng hiện đạt khoảng 98.6%, nhanh hơn khoảng 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Lượng mưa lớn trong cuối tuần vừa rồi đã giúp ngăn không cho mùa vụ thiệt hại nặng nề hơn. Chất lượng tốt/tuyệt vời của đậu tương cũng phục hồi nhẹ so với tuần trước, từ 19% (thấp nhất từ đầu mùa vụ) lên 21%. Tuy nhiên mức chất lượng này đang thấp hơn rất nhiều so với mức 65% cùng kỳ năm ngoái.
    • Theo các nhà phân tích, tổng cộng 19.5 triệu ha đậu tương đã được trồng cho đến nay, chỉ còn 2.4 triệu ha – phần lớn ở phía bắc đất nước – còn lại để chưa được gieo hạt.
    • Đối với ngô, diện tích gieo trồng tuần vừa rồi tăng 2.5% lên mức 93.4%, chậm hơn khoảng 2% so với cùng thời điểm này năm 2020. Diện tích chưa được gieo trồng còn khoảng 3 triệu ha. Chất lượng tốt/tuyệt vời của ngô tiếp tục cải thiện rõ rệt trong tuần vừa rồi, từ 19% lên 28%, sau khi bắt đầu phục hồi từ tuần trước đó.

Nguyên liệu công nghiệp

  • Brazil:
    • Cơ quan cung ứng mùa vụ của chính phủ Brazil (CONAB) cho biết, nông dân trồng cà phê Brazil đang trải qua năm thứ 2 của chu kì 2 năm của loại cây công nghiệp này, do đó sản lượng năm nay được dự báo giảm mạnh. Theo đó, những bất lợi về khí hậu trong giai đoạn đầu của niên vụ và đặc điểm của chu kỳ 2 năm đã ảnh hưởng tiêu cực tới mùa vụ, khiến sản lượng cà phê Brazil có thể giảm 30.5% xuống mức 43.8 triệu bao, so với mức 63.07 triệu ở niên vụ trước.
    • Đối với diện tích gieo trồng, CONAB nâng nhẹ dự báo lên 2.18 triệu hectare, so với mức 2.16 triệu hectare trong năm 2020. Cơ quan cung ứng mùa vụ này cũng dự báo sản lượng cà phê Arabica ở khoảng 29.71 – 32.99 triệu bao, trong khi sản lượng cà phê Robusta ở trong khoảng 14.13 – 16.59 triệu bao.

Năng lượng

  • Mỹ:
    • Trong báo cáo Triển vọng Năng lượng ngắn hạn công bố hôm nay, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) cho biết dầu thô WTI sẽ có giá trung bình 56 USD/thùng trong quý I/2021.
    • Đây là mức tăng 6 USD/thùng so với dự đoán trong tháng 12/2020, chủ yếu do kỳ vọng rằng nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm xăng dầu sẽ tăng trong năm nay, đặc biệt là trong quý đầu tiên. Mặc dù EIA dự kiến nhu cầu sẽ tăng nhưng làn sóng Covid-19 lần 2 ở Mỹ và các quốc gia châu Âu sẽ tiếp tục hạn chế sự phục hồi của nhu cầu năng lượng trong nửa đầu năm 2021.
    • EIA dự đoán GDP của Mỹ sẽ tăng 5.4% trong năm nay – một yếu tố quan trọng giúp tiêu thụ năng lượng tăng. Tiêu thụ dầu thô toàn cầu trong năm 2021 dự kiến sẽ đạt trung bình 97.8 triệu thùng/ngày.
  • Châu Âu:
    • Theo báo cáo của PJK và Insights Global, tồn kho sản phẩm lọc dầu của Liên minh châu Âu tại cụm kho Amsterdam-Rotterdam-Antwerp (ARA) trong tuần kết thúc ngày 21/01 như sau:
      • Tồn kho nhiên liệu máy bay giảm xuống 930,000 tấn.
      • Tồn kho dầu khí tăng lên 2.667 triệu tấn.
      • Tồn kho naptha giảm xuống 488,000 tấn.
      • Tồn kho xăng tăng lên 1.314 triệu tấn.
      • Tồn kho dầu nhiên liệu tăng lên 1.371 triệu tấn
  • Thế giới:
    • Trong năm 2020, Saudi Arabia vẫn là nhà cung cấp dầu thô hàng đầu của Trung Quốc với khối lượng xuất khẩu khoảng 84.92 triệu tấn (1.7 triệu thùng/ngày). Tuy nhiên, mức tăng trưởng hàng năm chỉ đạt 1.9%, thấp hơn Nga ở mức 7.6%.
    • Trong năm ngoái, Nga đã xuất khẩu 83.57 triệu tấn dầu thô đến Trung Quốc, tương đương 1.67 triệu thùng/ngày
  • Trung Quốc:
    • Theo dữ liệu Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố ngày hôm qua, nhập khẩu dầu thô từ Mỹ trong năm 2020 đạt mức 19.76 triệu tấn (395,746 thùng/ngày), tăng 211% so với năm 2019. Tổng giá trị nhập khẩu từ Mỹ là 6.28 tỷ USD.
    • Trong tháng 12/2020, Trung Quốc nhập khẩu 3.6 triệu tấn dầu thô từ Mỹ. Khối lượng nhập khẩu tăng mạnh trong nửa cuối năm ngoái đã giúp Mỹ trở thành nhà xuất khẩu lớn thứ 9 của Trung Quốc trong cả năm.

Kim loại

  • Brazil:
    • Chính quyền bang Ceara, khu vực quản lý cảng Pecem, một trong những cảng xuất khẩu quặng sắt lớn nhất tại Brazil, báo cáo đã xuất khẩu 330,6000 tấn quặng sắt trong tháng 12/2020, tăng 15.3% so với cùng kỳ năm ngoái.
    • Trong năm 2020, xuất khẩu quặng sắt tại cảng Pecem ước đạt 4.22 triệu tấn. Tuy nhiên, chính quyền bang Ceara chưa đưa ra thông tin chi tiết về việc lượng xuất khẩu năm 2020 có thể hiện sự tăng trưởng hay suy giảm so với năm 2019 hay không.
  • Nhật Bản:
    • Số liệu sơ bộ được công bố bởi Bộ Tài chính Nhật Bản cho biết, trong năm 2020, nước này đã nhập khẩu 99 triệu tấn quặng sắt, giảm 19% so với năm 2019. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 1 nghìn tỉ JPY, giảm 14% so với năm 2019.
    • Nhập khẩu quặng sắt Nhật Bản năm 2020 được báo cáo ở dưới mức nhập khẩu ghi nhận năm 2009, khi mà sản lượng thép thô nước này giảm mạnh do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 – 2009. Sản lượng thép thô Nhật Bản được dự báo giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 52 năm, trong năm tài chính tính từ giai đoạn tháng 04/2020 tới tháng 03/2021.
    • Cũng theo Bộ Tài chính Nhật Bản, xuất khẩu các sản phẩm thép tại Nhật Bản trong năm 2020 giảm 5% xuống mức 32 triệu tấn, trong khi nhập khẩu thép thành phẩm giảm 21% xuống mức 6.6 triệu tấn.

Thông tin thu thập từ các nguồn: Investing, Reuters, Newsnow, Foxnews, Mxvnews.

Nguyễn Đức Thịnh – Chuyên viên phân tích

    HÃY ĐỂ CHÚNG TÔI TƯ VẤN CHO BẠN

    0983668883