Thị trường hàng hoá hôm nay 6/6: Lực mua chiếm ưu thế, giá dầu ở mức 72,15 USD/thùng

Dữ liệu từ Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV) cho thấy, giá hàng hóa nguyên liệu thế giới diễn biến phân hoá trong ngày hôm qua (5/6). Tuy nhiên, lực mua có phần chiếm ưu thế đã hỗ trợ chỉ số MXV- Index tăng 0,33% lên 2.144 điểm, đánh dấu phiên tăng thứ ba liên tiếp. Trong khi đó, giá trị giao dịch toàn Sở tiếp tục duy trì ổn định, đạt gần 4.900 tỷ đồng.

Đà tăng của giá dầu bị thu hẹp bất chấp OPEC+ cắt giảm sản lượng

Sau buổi họp của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và đồng minh (OPEC+), giá dầu mở cửa phiên giao dịch ngày 5/6 với mức tăng cách biệt gần 3 USD/thùng. Tuy nhiên, đà tăng dần bị thu hẹp khi thị trường thận trọng đánh giá tác động của việc cắt giảm sản lượng bởi các nước nhóm OPEC+ trong bối cảnh sức ép vĩ mô có thể kéo triển vọng tiêu thụ suy yếu.

Kết phiên ngày 5/6, giá dầu WTI đóng cửa tại mức 72,15 USD/thùng, tăng 0,57% so với mốc tham chiếu. Giá dầu Brent tăng 0,76% lên mức 76,71 USD/thùng.

Cuộc họp của nhóm OPEC+ vào cuối tuần đã tiến tới thoả thuận gia hạn thời gian cắt giảm sản lượng cho đến cuối năm 2024, thay vì cuối năm 2023 như đã thông báo trước đó. Đáng chú ý, Saudi Arabia sẽ cắt giảm sản lượng thêm 1 triệu thùng/ngày vào tháng 7, và có thể sẽ duy trì trong trường hợp cần thiết.

Điều này sẽ khiến sản lượng trong tháng 7 của Saudi sẽ chỉ đạt mức 9 triệu thùng/ngày, mức thấp nhất kể từ giai đoạn cắt giảm 5/2020 - 6/2021 do dịch bệnh Covid-19 làm sụt giảm nhu cầu.

Công ty tư vấn Rystad Energy cho biết việc cắt giảm bổ sung của Saudi Arabia có khả năng làm thâm hụt thị trường sâu hơn lên hơn 3 triệu thùng/ngày trong tháng 7. Giá dầu ngay lập tức mở cửa cửa với mức tăng hơn 4% lên mức 75 USD/thùng, nhưng vẫn chưa thể vượt khỏi vùng kháng cự này.

Trái lại, ngân hàng Morgan Stanley đánh giá việc cắt giảm sản lượng của OPEC+ nhiều khả năng chỉ có thể hỗ trợ cho giá dầu trong ngắn hạn. Động lực đối với thị trường trong phần còn lại của năm 2023 và cả năm 2024 thực tế vẫn không đổi do hạn chế từ các yếu tố vĩ mô sẽ là rào cản cho sức tiêu thụ tại các nền kinh tế lớn như Mỹ và Trung Quốc.

Chỉ số quản lý thu mua (PMI) phi sản xuất của Mỹ tháng 5/2023 do Viện Quản lý Cung Ứng (ISM) khảo sát đã giảm xuống mức 50,3 điểm, thấp hơn 1,9 điểm so với dự báo của các chuyên gia kinh tế, thấp nhất kể từ đầu năm đến nay, phản ánh những áp lực nhất định của nền kinh tế Mỹ trong bối cảnh lãi suất cao.

Ngoài ra, việc Nga không cam kết cắt giảm thêm sản lượng, trong khi dòng chảy dầu từ Nga tiếp tục cho thấy sự ổn định cũng khiến giá dầu gặp áp lực vào cuối phiên. Theo Reuters, xuất khẩu dầu bằng đường biển của Nga từ các cảng phía Tây, gồm Primorsk, Ust-Luga và Novorossiisk đã đạt kỷ lục 4 năm ở mức 2,4 triệu thùng/ngày trong tháng 5.

Ấn Độ hiện đang là thị trường tiêu thụ dầu Ural của Nga lớn nhất khi chiếm khoảng 50% lượng dầu được xuất khẩu từ các cảng phía Tây, trong khi Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ chiếm lần lượt 15% và 11% thị phần.

MXV phân tích kỹ thuật và khuyến nghị, giá dầu hiện đã lấp hoàn toàn mức “gap-up” và trở về vùng hỗ trợ 71,8 USD, cũng là cạnh giữa dải Bollinger Band trên khung Daily. Nhiều khả năng giá sẽ bật tăng từ vùng này, và tiến tới vùng hỗ trợ 73,5 - 73,7 USD. Các nhà đầu tư có thể mở mua tại vùng 71,5 - 71,8 USD với kỳ vọng chốt lời ở vùng hỗ trợ nêu trên. Cắt lỗ tại 70,7 USD.

Đồng và quặng sắt nối dài đà tăng

Trên thị trường kim loại, giá bạch kim chốt phiên tại mức 1.036,4 USD/ounce sau khi tăng 3,28%, mức tăng cao nhất kể từ giữa tháng 04. Đây cũng là mặt hàng ghi nhận đà tăng mạnh nhất toàn thị trường trong ngày hôm qua.

Vào phiên tối, loạt dữ liệu được công bố cho thấy nền kinh tế Mỹ đang hạ nhiệt. Cụ thể, chỉ số quản trị mua hàng (PMI) phi sản xuất của Viện quản lý cung ứng (ISM) chỉ đạt 50,3 điểm trong tháng 5, thấp hơn mức dự báo và số liệu tháng 04. Hơn nữa, số đơn hàng nhà máy và đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền đều giảm so với tháng trước và không đạt được như kỳ vọng.

Điều này đã tạo sức ép, kéo đồng USD suy yếu trở lại; từ đó hỗ trợ lực mua các mặt hàng kim loại quý. Bạc cùng chung xu hướng với bạch kim, tuy nhiên, mức giảm mạnh trong phiên sáng đã khiến mặt hàng này chốt ngày 05/06 trong sắc đỏ.

Hơn nữa, theo báo cáo của công ty Heraeus, do bối cảnh ảm đạm của nền kinh tế Mỹ và khu vực Liên minh châu Âu (EU) như hiện nay sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu công nghiệp trong một thời gian dài, trong đó có sản lượng pin mặt trời, sản phẩm tiêu thụ bạc lớn.

Đối với nhóm kim loại cơ bản, giá đồng và giá sắt duy trì được đà tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ cải thiện. Đóng cửa, giá đồng COMEX tăng 1,09% và giá sắt tăng 1,10% lên mức 105,04 USD/tấn.

Theo dữ liệu ngày 5/6 của công ty Earth-I, tổ chức theo dõi 80-90% các lò luyện kim trên toàn cầu, cho thấy hoạt động luyện đồng trên toàn cầu hồi phục nhẹ trong tháng 05 do các nhà máy luyện kim hàng đầu của Trung Quốc tăng cường sản xuất.

Cụ thể, chỉ số phân tán đồng toàn thế giới của Earth-i tăng lên mức 46,2 điểm trong tháng 05 từ mức 44 điểm trong tháng 04, là mức thấp nhất kể từ tháng 3/2021. Trong đó, chỉ số phân tán đồng của riêng Trung Quốc đạt mức 52,7 điểm trong tháng 05, tăng 10,6 điểm so với tháng 04. Thước đo trên 50 điểm cho thấy các nhà máy luyện kim đang hoạt động ở mức tốt.

Trong khi nhu cầu tiêu thụ có phần cải thiện thì nguồn cung có dấu hiệu sụt giảm. Ủy ban đồng Chile Cochilco cho biết tổng sản lượng đồng của Chile, quốc gia khai thác đồng lớn nhất thế giới đạt 412.200 tấn trong tháng 4, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái, và giảm 5,8% so với tháng 3.

Đối với thị trường quặng sắt, giá sắt đang nhận được động lực tăng chính nhờ kỳ vọng nhu cầu sẽ phục hồi tại Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ kim loại lớn nhất thế giới. Theo Bloomberg News, Trung Quốc gần đây đã đưa ra các biện pháp hỗ trợ cho lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực được coi là trụ cột kinh tế của nước này và là động lực tiêu thụ chính của sắt thép.

Cà phê dẫn dắt đà tăng nhóm nguyên liệu công nghiệp

Kết thúc ngày giao dịch 5/6, giá đường giảm phiên thứ 5 liên tiếp và đóng cửa giảm 1,33%. Các thương nhân cho biết, hoạt động sản xuất khẩu đường trong tháng 5 tại Brazil diễn ra tích cực với mức tăng gần 60% so với cùng kỳ năm trước, giúp giảm bớt những lo ngại về thiếu hụt nguồn cung trên thị trường vật chất.

Bên cạnh đó, Indonesia hiện đang lên kế hoạch tăng 8,3% sản lượng đường trắng trong năm 2023, đưa nhập khẩu giảm về dưới 1 triệu tấn, từ mức trên 1 triệu tấn trong năm 2022, Cơ quan Lương thực Quốc gia (Bapanas) cho biết.

Ở chiều ngược lại, với mức tăng tương đối mạnh, hai mặt hàng cà phê dẫn dắt đà khởi sắc của toàn thị trường. Cà phê Arabica đóng cửa cao hơn 1,55% so với tham chiếu nhờ hỗ trợ từ lo ngại nguồn cung sụt giảm trong ngắn hạn.

MXV cho biết, tồn kho Arabica đạt chuẩn trên Sở ICE đã giảm thêm 8.424 bao loại 60kg trong phiên hôm qua, về mức thấp nhất kể từ cuối tháng 11/2022.

Bên cạnh đó, giá Robusta cũng ghi nhận mức tăng khá tốt với 1,24% so với tham chiếu. Tương tự Arabica, nguồn cung khan hiếm cũng là vấn đề quan trọng đối với Robusta ở thời điểm hiện tại và là yếu tố chính hỗ trợ giá.

Lượng hàng dự trữ gần như đã cạn kiệt tại Việt Nam khi mùa vụ mới đang trong giai đoạn phát triển, kết hợp cùng triển vọng nguồn cung kém tích cực tại Brazil và Indonesia, khiến nông dân hạn chế bán hàng. Nguồn cung đẩy ra thị trưởng ở mức thấp trong khi nhu cầu tăng cao từ các nhà máy sản xuất, giúp giá duy trì được lợi thế tăng tốt.

Giá cà phê nội địa vững đà tăng

Trên thị trường nội địa, ghi nhận trong sáng nay, giá cà phê nhân xô khảo sát tại Tây Nguyên và các tỉnh Nam Bộ bật tăng mạnh khoảng 500 đồng/kg. Theo đó, cà phê toàn quốc được thu mua với mức giá trên 61.000 đồng/kg, dao động trong khoảng 61.200 - 61.800 đồng/kg. Như vậy, mặc dù trải qua một vài phiên điều chỉnh giảm, tuy nhiên đà tăng của giá cà phê trong nước vẫn rất ổn định.

Theo MXV, cà phê nội địa còn dư địa tăng đáng kể trong bối cảnh giá Robusta thế giới vẫn đang giằng co tại vùng giá cao trong 12 năm. Trong thời gian tới, mức giá cao còn có thể được duy trì khi tồn kho tại Việt Nam chưa thể sớm được bổ sung nhanh chóng. Hơn nữa, Brazil và Indonesia dù đang trong giai đoạn thu hoạch cà phê nhưng triển vọng nguồn cung kém tích cực. Tại Brazil, sản lượng được dự báo giảm 8% so với năm trước. Trong khi đó, Indonesia hiện đối mặt với mùa vụ cà phê với sản lượng ở mức thấp nhất trong 12 năm. Điều này sẽ khiến nông dân cả 2 nước thận trọng hơn trong việc bán ra cà phê vụ mới.

HÃY ĐỂ CHÚNG TÔI TƯ VẤN CHO BẠN
Đăng ký